Amitartha Sutra – 無量義經 – Vô Lượng Nghĩa Kinh
Nước Trung Hoa – triều Nam Tề (479~502) thời kỳ Nam Bắc Triều
Ngài Đàm Ma Già Đà Da Xá Hán dịch từ Phạn văn năm 481
Cư sĩ Hạnh Cơ Việt dịch từ Hán văn năm 2006
daithua.com biên soạn năm 2020

ĐỨC HẠNH


Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Phật ngự ở núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương Xá, cùng với sự hiện diện đông đủ của một vạn hai ngàn vị đại Tỳ kheo; tám vạn vị đại Bồ tát; tám bộ chúng trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già; chư vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, và Cận sự nữ cũng đều tụ hội đầy đủ.

Các vị đại Chuyển luân vương, Tiểu Chuyển luân vương, Kim luân vương, Ngân luân vương và các luân vương khác; các vị quốc vương, vương tử, đại thần, quốc dân, quốc sĩ, phu nhân, đại trưởng giả, cùng quyến thuộc của họ đông đến hàng trăm, ngàn, vạn người, cùng nhau đi đến nơi Phật ngự, đầu mặt lạy sát chân Phật, đi nhiễu quanh Phật hàng trăm ngàn vòng, đốt nhiều loại hương, rải nhiều loại hoa để cúng dường Phật, sau đó thì lui ngồi về một bên.

Các vị Bồ tát trong Pháp hội như Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử, Đại Uy Đức Tạng Pháp vương tử, Vô Ưu Tạng Pháp vương tử, Đại Biện Tạng Pháp vương tử, Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Đạo Thủ, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng, Bồ tát Hoa Tràng, Bồ tát Hoa Quang Tràng, Bồ tát Đà La Ni Tự Tại Vương, Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Thường Tinh Tấn, Bồ tát Bảo Ấn Thủ, Bồ tát Bảo Tích, Bồ tát Bảo Trượng, Bồ tát Việt Tam Giới, Bồ tát Tì Ma Bạt La, Bồ tát Hương Tượng, Bồ tát Đại Hương Tượng, Bồ tát Sư Tử Hống Vương, Bồ tát Sư Tử Du Hí Thế, Bồ tát Sư Tử Phấn Tấn, Bồ tát Sư Tử Tinh Tấn, Bồ tát Dũng Nhuệ Lực, Bồ tát Sư Tử Uy Mãnh Phục, Bồ tát Trang Nghiêm, Bồ tát Đại Trang Nghiêm,… Các vị Đại Bồ tát như thế, đông đến tám vạn, cũng đều vân tập đầy đủ.

Các vị Bồ tát trên đây đều là các bậc Pháp thân Đại sĩ, đã thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến; tâm thường tĩnh lặng, an trụ nơi chánh định, an nhiên điềm đạm, dứt hết sợ hãi, không còn vọng động, không còn ham muốn; mọi thứ điên đảo, loạn tưởng không thể xâm nhập được.

Các Ngài tâm tịch tĩnh lắng trong, chí trống rỗng huyền diệu, hằng giữ không vọng động trải hàng trăm ngàn ức kiếp. Vô lượng Pháp môn đều hiện rõ trước mắt, mà với trí tuệ rộng lớn, các Ngài đều thông suốt tất cả, phân biệt rành rẽ, tánh tướng chân thật, không có tốt xấu, rõ ràng minh bạch.

Các Ngài cũng biết rõ mọi căn tánh và ước muốn của chúng sinh, dùng biện tài tổng trì vô ngại, thỉnh Phật thuyết Pháp, tùy thuận chúng sinh mà hóa độ, trước là làm cho thấm nhuần Pháp nhũ để dập tắt dục trần, mở cửa niết bàn, quạt gió giải thoát để trừ sạch phiền não nóng bức ở thế gian, đạt được mọi điều tươi mát. Thứ đến là nói Pháp sâu xa “Mười Hai Nhân Duyên”, rửa sạch vô minh cho đến già bệnh chết, đốt cháy mãnh liệt mọi đau khổ từng tích tụ như ánh sáng mặt trời. Sau đó thì tưới nước Pháp Đại thừa vô thượng, thấm nhuần tất cả chúng sinh có thiện căn, gieo chủng tử lành vào khắp ruộng công đức, khiến cho tất cả đều phát sinh mầm mống Bồ đề; lấy trí tuệ làm ánh sáng mặt trời mặt trăng, lấy phương tiện làm thời tiết, giúp chúng sinh khai thông và tăng trưởng sự nghiệp Đại thừa, mau chứng quả Bồ đề Vô thượng, thường an trụ nơi cảnh giới an vui nhiệm mầu chân thật, dùng tâm đại bi vô lượng để cứu khổ chúng sinh.

Các vị đó đều là chân thiện tri thức.

Các vị đó đều là ruộng phước tốt đẹp.

Các vị đó đều là bậc thầy không cần cầu thỉnh.

Các vị đó là nơi nương tựa chắc chắn, đầy an lành, vui vẻ, là nơi được cứu độ, hộ trì.

Nơi nào cũng là bậc đạo sư của mọi người, là cặp mắt sáng cho người mù tối, là tai cho người điếc, là mũi cho người bị xẻo mất mũi, là lưỡi cho người câm ngọng; làm cho những người có các căn bị khuyết tật thì lành lặn đầy đủ, những người điên khùng hoảng loạn được có chánh niệm; làm thuyền trưởng và thủy thủ để chở mọi người qua sông sinh tử, đến bờ niết bàn; làm y sĩ, dược sĩ, chẩn đoán bệnh trạng, hiểu rõ dược tính, tùy bệnh cho thuốc, giúp cho mọi người bình phục an vui; làm bậc điều ngự không có các hành vi buông lung, giống như người điều khiển voi ngựa có thể điều phục những voi ngựa khó điều phục, như sư tử hùng mạnh có uy lực khuất phục các loài thú khác; đó là bậc không ai có thể phá hoại, là Bồ tát du hí với đầy đủ các Ba la mật, ở nơi lãnh địa của Như Lai, tâm luôn kiên cố, không vọng động, an trú nơi nguyện lực, làm cho khắp cõi Phật đều thanh tịnh, chẳng bao lâu được chứng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Các vị Đại Bồ tát đó đều có công đức không thể nghĩ bàn như thế.

Các vị Tỳ kheo trong Pháp hội như Đại trí Xá Lợi Phất, Thần thông Mục Kiền Liên, Tuệ mạng Tu Bồ Đề, Ma Ha Ca Chiên Diên, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, A Nhã Kiều Trần Như, Thiên nhãn A Na Luật, Trì luật Ưu Ba Li, Thị giả A Nan, Phật tử La Vân, Ưu Ba Nan Đà, Li Bà Đa, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Châu Đà, Sa Già Đà, Đầu đà Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, vân vân cả thảy một vạn hai ngàn vị Tỳ kheo như vậy, đều là các bậc A la hán đã dứt trừ hết phiền não, không còn bị lậu hoặc ràng buộc, được chân chánh giải thoát.

Bấy giờ ngài Đại Bồ tát Đại Trang Nghiêm quan sát khắp đại chúng, thấy mọi người tâm ý đều đã an định, bèn cùng với tám vạn vị Đại Bồ tát ở trong chúng hội, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến trước Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật, đi nhiễu hàng trăm ngàn vòng, đốt hương trời, rải hoa trời; lại có áo cõi trời, chuỗi anh lạc và các loại ngọc quí báu vô giá khác của cõi trời, từ trên hư không từ từ rơi xuống bốn phía như mây tụ để dâng cúng Phật; các thức ăn cõi trời trăm vị trân quí đựng trong bát trời, tràn đầy sung mãn, chỉ cần thấy sắc nghe mùi thì tự nhiên no đủ; cờ trời, phướn trời, lọng trời, nhạc khí vi diệu cõi trời đặt khắp các nơi, cùng hòa tấu để dâng cúng Phật. Tất cả các vị Đại Bồ tát ấy cùng quì gối chắp tay trước Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ khen ngợi Phật rằng:

“Cao cả thay bậc Thánh Đại Ngộ!
Không dơ, không nhiễm, không đắm trước.
Đấng Điều Ngự của cả trời người,
Gió đạo, hương đức xông tỏa khắp.
Trí, tình bình lặng, ngưng suy lự,
Ý diệt, thức tiêu, tâm tịch tĩnh,
Dứt huyễn mộng, sạch hết vọng tưởng;
Không còn các đại, ấm, giới, nhập,
Thân Phật chẳng có cũng chẳng không,
Chẳng nhân, chẳng duyên, chẳng tự tha,
Chẳng vuông, chẳng tròn, chẳng dài ngắn,
Chẳng lộ, chẳng ẩn, chẳng sinh diệt,
Chẳng tạo, chẳng khởi, chẳng tác vi,
Chẳng ngồi, chẳng nằm, chẳng đi đứng,
Chẳng động, chẳng chuyển, chẳng nhàn tịnh,
Chẳng tiến, chẳng lùi, chẳng an nguy,
Chẳng phải, chẳng quấy, chẳng được mất,
Chẳng kia, chẳng đây, chẳng đi lại,
Chẳng xanh, chẳng vàng, chẳng đỏ trắng,
Chẳng hồng, chẳng tím bao màu sắc;
Giới, định, tuệ, giải, tri kiến sinh,
Ba minh, sáu thông, đạo phẩm phát,
Từ bi, mười lực, vô úy khởi,
Chúng sinh nương tựa sinh nghiệp lành.
Hiện thân trượng sáu màu vàng kim,
Nghiêm chỉnh phương phi chiếu sáng ngời,
Mặt đẹp trăng tròn sáng mặt trời,
Tóc xoắn thẩm xanh, đỉnh nhục kế,
Mắt sáng trong thấy suốt mọi chiều,
Lông mày biếc, miệng vuông, má đầy,
Môi lưỡi đỏ đẹp như trái đỏ,
Răng bốn mươi chiếc trắng thanh khiết,
Trán rộng mũi thẳng mặt sáng rỡ,
Ngực hiện chữ “Vạn” (卍), ức sư tử,
Tay chân mềm mại đủ ngàn xoáy,
Nách tay trơn liền giữ trong ngoài,
Ngón tay thon, cánh tay thẳng dài,
Da mịn màng, lông xoáy bên phải,
Gót gối không lộ, mã âm kín,
Gân nhỏ, xương liền, ruột loài dê,
Trong ngoài trong suốt sạch không dơ,
Như nước sạch không hề dính bụi.
Dường ấy ba mươi hai tướng tốt,
Tám mươi vẻ đẹp có thể thấy,
Mà thật không tướng, không sắc tướng,
Tất cả tướng, mắt đối toàn không,
Từ tướng không tướng, có tướng thân,
Thân tướng chúng sinh, tướng cũng vậy;
Khiến cho chúng sinh vui mừng lạy,
Tâm chí thành cung kính ân cần,
Nhân đó tiêu trừ lòng kiêu mạn.
Thành tựu sắc thân đẹp như thế,
Đệ tử chúng con gồm tám vạn,
Xin cúi đầu kính lạy qui y,
Đấng tư tưởng tâm ý tĩnh lặng,
Bậc Thánh Điều Ngự không đắm trước.
Cúi đầu qui y Pháp, sắc thân,
Đủ giới, định, tuệ, giải, tri kiến,
Cúi đầu qui y bao tướng đẹp,
Cúi đầu qui y khó nghĩ bàn.
Tiếng sấm Phạm âm vang tám thứ,
Vi diệu thanh tịnh rất sâu xa,
Bốn đế, sáu độ, mười hai duyên,
Tùy thuận chúng sinh nghiệp tâm chuyển,
Ai nghe được tâm ý đều mở,
Diệt vô lượng phiền não sinh tử.
Người nghe hoặc chứng Tu đà hoàn,
Tư đà, A na, A la hán,
Bậc Duyên giác vô lậu vô vi,
Bậc Bồ tát không sinh không diệt;
Hoặc được vô lượng Đà la ni,
Đại biện tài thuyết Pháp vô ngại,
Diễn nói kệ sâu xa nhiệm mầu,
Ao Pháp trong thảnh thơi tắm gội,
Hoặc bay, hoặc nhảy, hiện thần túc,
Thân tự tại ra vào nước lửa.
Pháp luân như thế, tướng như thế,
Thanh tịnh vô biên khó nghĩ bàn.
Chúng con lại cùng nhau cúi đầu,
Qui y vào lúc xe Pháp chuyển.
Cúi đầu qui y tiếng Phạm âm,
Cúi đầu qui y duyên, đế, độ.
Đức Thế Tôn vô lượng kiếp xưa,
Cần khổ tu tập bao đức hạnh,
Vì chúng con: người, trời, rồng, thần,
Cùng tất cả các loài chúng sinh,
Đã từ bỏ những gì khó bỏ,
Của báu, vợ con và thành quách;
Vì Pháp, trong ngoài đều không tiếc,
Đầu, mắt, tủy, não, đều cho người;
Phụng trì tịnh giới của chư Phật,
Dù cho mất mạng không trái phạm;
Dù người dùng dao gậy làm hại,
Mắng chưởi, nhục mạ, không hề giận;
Trải bao kiếp nén mình không mỏi,
Ngày đêm tâm trụ cảnh giới thiền;
Học khắp tất cả các đạo Pháp,
Trí tuệ vào sâu căn chúng sinh,
Cho nên nay được sức tự tại,
Tự tại với Pháp, là Pháp Vương.
Chúng con xin cúi đầu qui y,
Đấng thành tựu những việc khó làm.”