妙法蓮華經


I. NGUỒN GỐC PHÁT XUẤT BỘ KINH

Kinh Pháp Hoa là một bộ kinh được nhiều dân tộc trên thế giới tán ngưỡng. Mỗi người tùy trình độ tu chứng khác nhau mà cảm nhận về kinh và lý giải kinh khác nhau.

Ngài Thế Thân Bồ tát cho kinh này là Tối thượng thừa, vì nó vượt trên các kinh và là mục tiêu của Tam thừa,… Ngài Trí Giả Đại sư cho kinh này là một Pháp mầu nhiệm có thể thống nhiếp tất cả các Pháp. Ngài Nhật Liên Thánh nhân cho kinh này là môn đại Đà la ni, người tu hành chỉ niệm Đề kinh (tức tên của kinh) là tiêu trừ được tất cả tội chướng và thành vô thượng Bồ đề.

Ngoài ba vị Thánh Tăng nêu trên, tất cả Pháp sư, Thiền sư đều thọ trì, đọc tụng, lễ bái, thậm chí có người kính lễ từng chữ, từng câu. Ngài Thái Hư Đại sư nói: “Chưa thấy một bộ kinh nào được kính trọng như thế”.

Đối với những vị Bồ tát, hay những vị có căn lành đặt trọn niềm tin và thân mạng nơi chư Phật, thì dòng lịch sử Kinh Pháp Hoa ví như dòng trí tuệ Phật trôi chảy miên viễn từ thời Phật Oai Âm Vương và trước đó nữa. Vì bất cứ một Đức Phật nào tu hành đạo Bồ tát để thành Phật đều phải học và tu theo kinh này. Kinh này là Kinh Pháp Hoa vô văn tự của chư Phật, Bồ tát đang sống và giữ gìn, là kinh mà Thường Bất Khinh Bồ tát nghe được khi đốt thân bằng lửa Tam muội và thái tử Sĩ Đạt Ta nghe được sau bốn mươi chín ngày tư duy Thiền định ở Bồ Đề Đạo Tràng. Chính nguồn kinh như vậy đã tạo thành một dòng lịch sử Phật giáo siêu việt, nuôi dưỡng tuệ giác cho những người con Phật hơn hai ngàn năm vẫn còn sống động.

Như vậy, lịch sử Kinh Pháp Hoa không phải là lịch sử tri thức con người, lịch sử của gạch vụn và xác khô, mà là lịch sử của những người đang sống với bản tâm, không bị thân ngũ ấm ngăn che, vượt qua được không gian mười muôn ức thế giới và tự tại với thời gian ngũ bách ức trần.

Về mặt học thuật, Kinh Pháp Hoa còn là một thể tài chứa đựng những tư tưởng phong phú, tạo sự thích thú cho các học giả khắp thế giới. Vào khoảng đầu thế kỷ thứ XIX, công sứ người Anh là ông Hamilton tìm thấy ở Nepal một bộ Kinh Pháp Hoa bằng chữ Phạn viết trên lá bối, thờ trong một động đá (ta quen gọi là Pháp Hoa Nepal). Sau đó có mười chín bản Pháp Hoa khác chép tay bằng Phạn ngữ được phái đoàn người Nhật, Anh, Pháp, Đức tìm thấy.

Vì là một thể tài siêu tuyệt làm say mê các nhà khảo cứu, nên công việc sưu tầm nguồn gốc Kinh Pháp Hoa không ngừng lại ở con số hai mươi bản kinh đã tìm thấy. Người Nhật phát động phong trào thám hiểm truy nguyên dấu tích kinh và người Anh bảo trợ cho Hội Nghiên Cứu Kinh Pháp Hoa. Kết quả là bốn phái đoàn thám hiểm Nhật, Anh, Đức và Nga đi sang vùng Trung Á tìm thêm được ở vùng Kotan sáu bộ Kinh Pháp Hoa bằng Phạn ngữ và một bộ kinh ở Kucha Quê của ngài Cưu Ma La Thập (334~413).

Đến năm 1932, một bộ Kinh Pháp Hoa cổ nhất được tìm thấy ở vùng Kashmir nối liền với Afghanistan (ta quen gọi là bộ Pháp Hoa Gilgit). Bộ kinh này gồm có hai phần ba bằng chữ Phạn và một phần ba chữ Magadhi là loại chữ cổ nhất của nước Ma Kiệt Đà.

Đem so sánh hai mươi tám bộ Kinh Pháp Hoa tìm được rải rác khắp nơi, ta thấy bộ kinh thiếu đoạn này, bộ thiếu đoạn khác, có ít nhiều sai biệt. Điều này cũng dễ hiểu, vì tuy từ kim khẩu Đức Phật nói ra, nhưng kinh đã được kiết tập vào nhiều giai đoạn ở nhiều địa điểm khác nhau, do những nhóm người có trình độ không đồng nhau. Vì vậy, sự thông hiểu và diễn tả tất nhiên không thể giống nhau. Tuy có sai biệt, nhưng tư tưởng căn bản của kinh không thay đổi và trọng tâm của kinh nằm trong phẩm 02, 11, 16 thì tất cả bản kinh nào cũng đều có đủ ba phẩm này, chỉ khác phần phụ thuộc.

Tóm lại, theo sự khảo cứu trên, Kinh Pháp Hoa được kiết tập và hệ thống lại vào khoảng một trăm năm trước Tây lịch và chỉ đạo cho sự cai trị của vua A Dục (304~232 TTL). Ông cho xây tám mươi bốn ngàn tháp ở khắp nơi theo tinh thần của phẩm Dược Vương trong Kinh Pháp Hoa và cũng mang tinh thần của phẩm Tựa, giống như tám người con của Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, hoặc các con của vua A Dục đều bỏ thú vui thế tục, xuất gia trở thành những nhà truyền giáo đầy nhiệt tâm ở thời bấy giờ. Họ xây chùa, hoặc mang Kinh Pháp Hoa đi truyền bá tận Trung Đông, Trung Á,…

Một bằng chứng khác cho sự hiện hữu trước kỷ nguyên của Kinh Pháp Hoa là một vài tác phẩm xuất bản vào thế kỷ thứ nhất đã mang tư tưởng Kinh Pháp Hoa. Đặc biệt là Đại Trí Độ Luận của Long Thọ Bồ tát đã dùng kinh này để chứng minh thuyết Trung đạo. Đến ngài Thế Thân Bồ tát, chẳng những dẫn dụng Kinh Pháp Hoa trong bộ Nhiếp Đại Thừa Luận mà còn soạn ra bộ Pháp Hoa Luận để làm nền tảng cho các chú giải về sau.

II. SỰ PHÂN BỐ VÀ TRUYỀN DỊCH KINH PHÁP HOA

Nguyên bản Phạn văn Sadharma Pundarika Sutra tìm được ở Tây Vực và Nepal mà ta quen gọi là Pháp Hoa Nepal và Tây Vực. Gần đây người ta đã dịch hai bản Kinh Pháp Hoa này ra nhiều thứ tiếng để đối chiếu với các bản dịch xưa mà tôi sẽ thứ đệ trình bày.

Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ ghi lại một phần nhỏ sử liệu hiện còn để chứng minh sự phân bố và truyền dịch Kinh Pháp Hoa trên thế giới.

1. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Hán

Trong thư mục Trung Hoa có rất nhiều tác phẩm nói đến lịch sử Kinh Pháp Hoa, nhưng trong bài này chỉ căn cứ vào những sử liệu trong Xuất Tam Tạng Ký Tập, Chúng Kinh Mục Lục, Lịch Đại Tam Bảo Ký, Cổ Kim Dịch Kinh Mục Lục, Đại Đường Nội Điển Lục, Đại Châu San Định Chúng Kinh Mục Lục, Khai Nguyên Thích Giáo Lục, Trinh Nguyên Tân Định Thích Kinh Mục Lục để tìm các bản dịch Trung Hoa.

  • Chánh Pháp Hoa Kinh:
    • Xuất Tam Tạng Ký Tập: bộ Kinh Pháp Hoa gồm có 27 phẩm chia thành 10 quyển do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Thái Khương.
    • Lịch Đại Tam Bảo Ký: Kinh Pháp Hoa có 10 quyển do ngài Trương Sĩ Minh, Trương Trọng Chánh, Pháp Hiển, Đàm Thuyên dịch vào đời Thái Khương.
    • Đại Đường Nội Điển Lục: 10 quyển 189 tờ do ngài Trúc Pháp Hộ dịch tại Trường An vào triều Tây Tấn (266~316) đời Thái Khương.
    • Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỷ: 10 quyển do ngài Đàm Ma La Sát, người nước Nhục Chi dịch tại Lạc Dương vào triều Tây Tấn (266~316), đời vua Võ Đế năm Thái Thủy thứ nhất.
    • Khai Nguyên Thích Giáo Lục: 10 quyển cũng gọi là Phương Đẳng Chánh Pháp Hoa kinh do Trương Sĩ Minh, Trương Trọng Chánh và Pháp sư Nhiếp Thừa Viễn dịch vào đời Thái Khương.
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa:
    • Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỷ: kinh Diệu Pháp Liên Hoa có 7 quyển do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thủy thứ tư, triều Hậu Tần (384~417).
    • Chúng Kinh Mục Lục: kinh Diệu Pháp Liên Hoa 7 quyển, 175 trang do ngài Cưu Ma La Thập dịch tại vườn Tiêu Dao (Trường An) vào năm Hoằng Thủy thứ bảy triều Hậu Tần (384~417).
    • Xuất Tam Tạng Ký Tập: kinh Diệu Pháp Liên Hoa có 7 quyển cũng gọi là Tân dịch Kinh Pháp Hoa được dịch tại Trường An vào mùa Hạ, năm Hoằng Thủy thứ tám do ngài Tăng Hữu đề tựa và ngài Trúc Pháp Hộ tu chỉnh tại thành Lạc Dương.
  • Thêm Phẩm Pháp Hoa Kinh:
    • Thêm Phẩm Pháp Hoa kinh tức là bộ Kinh Pháp Hoa được tăng bổ, hiệu đính các bản dịch trước và cũng là tiền thân của bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa được thông dụng ở Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam ngày nay.
    • Theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục, bộ kinh này do hai Pháp sư người Tây Vực tên là Khuất Đa và Cấp Đa soạn tại chùa Phổ Diệu vào năm Nhân Thọ thứ nhất triều Tùy (581~619).
    • Trong bộ Đại Đường Nội Điển Lục cũng ghi rằng: “Kinh này gồm có 8 quyển, 155 trang, do ngài Cấp Đa dịch tại chùa Hưng Thiện vào triều Tùy (581~619), niên hiệu Nhân Thọ thứ hai”.

Ngoài ba dịch phẩm bằng chữ Hán còn lưu lại trong bộ Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh kể trên, một số dịch bản khác vẫn được nhắc đến trong thư mục Trung Quốc, nhưng không thấy nguyên bản như:

  • Tác Đàm Phân Đà Lợi Kinh:
    • Chúng Kinh Mục Lục: kinh này thuộc hệ thống Pháp Hoa vì trong đó có phẩm Hiện Bảo Tháp và phẩm Đề Bà Đạt Đa.
    • Dịch Kinh Đồ Kỷ: một bộ 6 quyển do ngài Đàm Ma La Sát dịch vào đời Tấn Vũ Đế (266~290), năm Thái Thủy thứ nhất.
    • San Định Chúng Kinh Mục Lục: kinh này do Trúc Pháp Hộ, người nước Nhục Chi dịch ra chữ Hán vào triều Tây Tấn (265~316).
  • Phương Đẳng Pháp Hoa Kinh:
    • San Định Chúng Kinh Mục Lục: bộ kinh này do ngài Chi Đạo Căn dịch. Trúc Đạo Tổ sao lục vào triều Đông Tấn (317~420), năm Hàm Khương thứ nhất.
    • Tân Định Thích Kinh Mục Lục: Phương Đẳng Pháp Hoa kinh gồm có năm quyển đều bị thất lạc. Một bộ kinh khác mang tên Pháp Hoa Tam Muội cũng được nhắc đến trong thư mục Trung Hoa, nhưng theo San Định Chúng Kinh Mục Lục thì ngài Chi Cương Lương Tiếp dịch tại đất Giao Châu tức Bắc Việt ngày nay, nên chúng tôi xin ghi vào sự nghiệp dịch kinh của người Việt Nam (tài liệu trên rút trong bộ Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh quyển thứ 49, 51 và 55).

2. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Tây Tạng

Theo văn học sử Tây Tạng, các nhà truyền giáo Phật giáo nương theo lối ký âm Sanskrit mà chế tác ra văn tự Tây Tạng vào triều đại Sron Btsan Sgampo.

Đến thế kỷ thứ VIII thì bộ Ldan Dharma được hoàn thành, Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Tây Tạng cũng được dịch vào thời kỳ này và còn tìm thấy trong những bộ đại tạng: Shar Thàn, Sde Dge, Bắc Kinh,…

3. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Tây Hạ

Người Tây Hạ dịch Kinh Pháp Hoa ra tiếng bản xứ vào thời Bắc Tống và nguyên bản còn giữ tại Đông Dương Văn Khố Nhật Bản.

4. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Triều Tiên

Theo Phật giáo sử Triều Tiên, năm 1463 vua Thế Tổ triều Lý (1392~1910) đã ký một sắc lệnh cho dịch bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng chữ Hán ra tiếng bản xứ. Các triều đại kế tiếp hiệu đính lại và lưu truyền đến ngày nay.

5. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Mãn Châu

Không biết Kinh Pháp Hoa truyền sang Mãn Châu vào thời nào. Nhưng bộ Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Mãn Châu được giữ tại Sở Nghiên Cứu Kinh Pháp Hoa của Nhật ngày nay là bộ Pháp Hoa duy nhất nằm trong bộ Ngự Dịch Đại Tạng Kinh của vua Càn Long (1735~1796) triều Thanh (1636~1912). Bộ này được dịch lại từ bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng chữ Hán của ngài Cưu Ma La Thập.

6. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Mông Cổ

Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Mông Cổ cũng không biết rõ được dịch vào thời kỳ nào. Nhưng bản kinh hiện đang lưu hành được dịch ra từ bộ Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Tây Tạng hoặc một bản chữ Phạn khác đồng với bản Tây Tạng, vì cách thức bố cục cũng như nội dung gần với tiếng Tây Tạng hơn những bản dịch khác.

7. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Đức và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ

Đến nay các học giả Phật giáo cũng chưa xác định được bộ Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được dịch ra vào thời kỳ nào và sự tín ngưỡng của dân tộc ấy ra sao. Nhưng trong thời gian cộng tác với Sở Nghiên Cứu Kinh Pháp Hoa, tôi tìm được trong văn khố một tác phẩm dày 119 trang với nhan đề “Ein Turkishi Ubersetzung des XXV Kapithsderchi­neschen Ausgabe Des Sadharma Pundarika Sutram”.

Sách có phần nguyên bản chữ Vigur (thủy tổ dân Thổ Nhĩ Kỳ), bản dịch tiếng Đức, sau cùng là lời chú giải. Nội dung của sách tương ứng với phẩm Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa (sách này còn giữ tại Sở Nghiên Cứu Kinh Pháp Hoa Tokyo).

8. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Anh

Hiện có bốn bản dịch bằng tiếng Anh: The Lotus of the True Law, The Lotus Scripture Essence, The Lotus of the Wonderful Law và The Lotus Sutra.

  • The Lotus of the True Law: bộ này thuộc tạng The Sacred Books of the East do học giả Kern dịch vào năm 1880 gồm có 27 phẩm, 442 trang, được dịch ra từ bộ Phạn ngữ Nepal.
  • The Lotus Scripture Essence: bộ này thuộc bộ The New Test Ament of High Buddhism của Lichard xuất bản năm 1900, gồm có 28 phẩm và lược dịch từ bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng chữ Hán.
  • The Lotus of the Wonderful Law: bộ kinh này gồm có 28 phẩm do hai học giả Soothill và Kato dịch và xuất bản tại Luân Đôn năm 1930.
  • The Lotus Sutra: bộ kinh này gồm có 28 phẩm do Senchu Murano dịch từ bộ Diệu Pháp Liên Hoa của ngài Cưu Ma La Thập được tông Nhật Liên xuất bản năm 1974 tại Nhật Bản.

9. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Pháp

Pháp vẫn chỉ có một bộ duy nhất mang tên Le Lotus de la Bonne Loi do Hàn Lâm Học sĩ E. Burnouf dịch ra từ bộ Phạn ngữ Nepal vào năm 1925 và còn lưu truyền đến ngày nay.

Bộ kinh này cũng được cư sĩ Đoàn Trung Còn dịch ra tiếng Việt vào năm 1937 và cư sĩ Mai Thọ Truyền tĩnh lược trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa năm 1964.

10. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Nhật

Nhật có rất nhiều dịch bản, tôi chỉ đơn cử những bản thông dụng về học thuật và tín ngưỡng:

  • Phạn Hán Đối Chiếu Tân Dịch Kinh Pháp Hoa: bộ này do Hàn Lâm Đại Học Sĩ Nanjoo dịch vào năm 1913 bằng cách so sánh giữa bộ Diệu Pháp Liên Hoa chữ Hán và Sadharma Pundarika Sutra mà dịch ra quốc ngữ.
  • Phạn Bản Hòa Dịch Pháp Hoa Kinh: bộ này do hai giáo sư Sakamoto và Iwa­moto dịch và chú giải từ bản Phạn ngữ Nepal và nguyên bản Kimarajiva (Cưu Ma La Thập).
  • Phạn Tạng Truyền Dịch Quốc Dịch Pháp Hoa Kinh: bộ này do giáo sư Kawaguchi so sánh hai bản tiếng Phạn và Tây Tạng mà dịch ra quốc âm.
  • Hòa Dịch Pháp Hoa Kinh: bộ này do giáo sư Yamagawa kê cứu các bản kinh chữ Hán mà dịch ra quốc âm.
  • Hán Hòa Đối Chiếu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh: bộ này do giáo sư Shimachi và một số học giả khác so sánh và kê cứu tất cả các bản kinh đang lưu hành mà giám định lại Kinh Pháp Hoa chữ Nhật.

11. Kinh Pháp Hoa bằng tiếng Việt

Sự nghiệp dịch kinh của người Việt Nam rất sớm và phát triển mạnh nhất vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai. Theo Lịch Đại Tam Bảo Ký, bộ Kinh Pháp Hoa Tam Muội đã được ngài Chi Cương Lương Tiếp hợp tác với các học giả Việt Nam và dịch ra chữ Hán tại đất Giao Châu vào năm 260. Và trước đó, ngài Khương Tăng Hội đã trích dịch phẩm Thí Dụ với tên Phật Thuyết Tam Xa Dụ kinh.

Lịch sử dịch Kinh Pháp Hoa của người Việt Nam có thể chia ra làm ba thời kỳ khác nhau là thời kỳ chữ Hán, thời kỳ chữ Nôm và thời kỳ chữ Quốc ngữ.

a. Thời kỳ chữ Hán:

Theo sử liệu Trung Hoa thì đạo tràng phiên dịch ở Giao Châu (Hà Nội) đã được thành lập vào triều Đông Hán (23~220) do sự giúp đỡ của các quan thứ sử và sự hợp tác của các danh gia Ấn Độ, Trung Á, Trung Đông,…

Một thương gia người Khương Cư (Khương Tăng Hội) đem cúng hết của hương hỏa và xin hợp tác với đạo tràng này vào năm 247 và trở thành một nhà truyền giáo nổi tiếng ở Đông Ngô. Những học giả khác của Trung Quốc cũng xin vào nghiên cứu.

Ngài Giác Hiền đi từ Kashmir vượt thông lãnh để tìm đến đạo tràng Giao Châu trước khi sang Trung Quốc, đã làm cho các sử gia Nhật Bản lưu tâm.

Một bộ Kinh Pháp Hoa sáu quyển được dịch ra Hán văn tại đạo tràng Giao Châu vào năm 256 đã làm cho đạo tràng này càng ngày càng thêm sáng chói trên văn đàn Trung Quốc.

Kế tiếp theo đó là một số tu sĩ Việt Nam được mời vào cộng đồng phiên dịch tại Trường An (soạn theo tài liệu trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh).

b. Thời kỳ chữ Nôm:

Các nhà Sư Việt Nam rất thông Hán học nhưng lòng yêu nước và tinh thần độc lập, tự chủ đã thúc đẩy họ dùng ký hiệu Quốc âm để thoát ly ảnh hưởng văn học Bắc thuộc. Nhiều tác phẩm mang thể tài Phật giáo vừa mới tìm thấy ở miền Bắc có thể coi như sớm nhất trong văn học Quốc âm (chữ Nôm).

Bộ Quốc Dịch Pháp Hoa kinh bằng chữ Nôm hiện còn giữ tại Đông Dương Văn Khố Nhật Bản đã nói lên được tinh thần dân tộc, độc lập và óc sáng tạo của tiền nhân.

c. Thời kỳ chữ Quốc ngữ:

Sau khi bị bắt buộc học văn hóa Pháp và dùng lối ký âm Latin, vào năm 1937, cư sĩ Đoàn Trung Còn cũng đã so sánh hai bản dịch của Pháp và Hán mà soạn ra bộ Kinh Pháp Hoa bằng Quốc âm.

Mười năm sau, Hòa thượng Trí Tịnh cũng ký âm Latin và dịch nghĩa bộ Diệu Pháp Liên Hoa để giúp các nhà tân học tiện việc trì tụng và nghiên cứu.

Nhìn lại sự nghiệp kể trên, chúng ta thấy dân tộc Việt Nam đã đóng góp cho sự phát huy tư tưởng “Nhất Phật thừa” không ít, và Kinh Pháp Hoa cũng trở thành nguồn sống của một dân tộc hiếu hòa.

Đất nước chúng ta trải qua bao nhiêu sóng gió thăng trầm trên dòng sanh diệt, nhưng Pháp Hoa vẫn hiện hữu sáng ngời nhiệm mầu qua biểu tượng mẹ hiền Quán Thế Âm và các Bồ tát mang tình thương vào đời.


Hòa thượng Thích Trí Quảng