Vimalakīrti Nirdeśa Sūtra – 維摩詰所說經 – Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh
Nước Trung Hoa – triều Hậu Tần (384~417) thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc
 Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344~413) Hán dịch từ Phạn văn năm 406
Tham chiếu Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh của ngài Huyền Trang (602~664)
Tỳ kheo Thích Tuệ Sỹ Việt dịch từ Hán văn
Nhà xuất bản Phương Đông xuất bản năm 2008
daithua.com biên tập năm 2020

CHÚNG ĐỆ TỬ


Lúc bấy giờ, Duy Ma Cật trong lòng suy nghĩ, “Nay ta nằm bệnh; không lẽ Đức Thế Tôn đại từ chẳng đoái tưởng đến?”

Phật biết ý tưởng đó, nói với Xá Lợi Phất:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

Xá Lợi Phất đáp:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Con nhớ lại, có lần, con đang ngồi tĩnh niệm dưới tàn cây trong rừng, Duy Ma Cật đến đó, và bảo con rằng, “Kính thưa ngài Xá Lợi Phất, bất tất ngồi như vậy mới là ngồi tĩnh niệm. Hiện thân và ý mà không ở trong ba cõi, ấy mới là tĩnh tọa. Hiện các oai nghi mà vẫn không xuất khỏi diệt tận định, ấy mới là tĩnh tọa. Hiện thân làm các việc phàm phu mà không xả Đạo Pháp, ấy mới là tĩnh tọa. Tâm không trụ trong, không trụ ngoài, ấy mới là tĩnh tọa. Tu hành ba mươi bảy phẩm mà không làm dao động các kiến chấp, ấy mới là tĩnh tọa. Nhập Niết bàn mà không đoạn trừ phiền não, ấy mới là tĩnh tọa. Ngồi được như vậy, thì mới được Phật ấn khả.”

“Bấy giờ, bạch Đức Thế Tôn, khi nghe ông nói những lời này, con ngồi im lặng, không trả lời được. Cho nên con chưa đủ năng lực để thăm viếng.”

Phật nói với Ma Ha Mục Kiền Liên:

“Ông hãy đi thăm bệnh Duy Ma Cật.”

Mục Kiền Liên bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Con nhớ lại, có lần, khi con đang giảng Pháp cho hàng tục gia đệ tử trên đường phố thành Tỳ Da Li, Duy Ma Cật đến bảo con rằng, “Kính thưa ngài Đại Mục Liên, giảng Pháp cho cư sĩ bạch y không phải như Nhân giả đang thuyết. Thưa ngài, khi thuyết Pháp, hãy như Pháp mà thuyết. Pháp không chúng sinh, vì xa lìa cáu bẩn của chúng sinh. Pháp không thọ mạng, vì xa lìa sinh tử. Pháp không có con người, vì tiền tế và hậu tế đều cắt đứt. Pháp thường tịch nhiên, vì diệt các tướng. Pháp lìa ngoài tướng, vì không sở duyên. Pháp không ngôn thuyết, vì lìa giác quán. Pháp không hình tướng, vì như hư không. Pháp không hý luận vì rốt ráo không. Pháp không ngã sở, vì lìa ngã sở. Pháp không phân biệt, vì lìa các thức. Pháp không so sánh, vì không tương đãi. Pháp không thuộc nhân vì không ở trong duyên. Pháp đồng Pháp tánh, vì nhập vào các Pháp. Pháp tuỳ theo Như vì không có gì để theo. Pháp trụ thực tế, vì không động các biên. Pháp không động dao, vì không y sáu trần. Pháp không đến đi vì thường không trụ. Pháp thuận với Không, tùy theo vô tướng và ứng với vô tác. Pháp lìa đẹp xấu. Pháp không tăng giảm. Pháp không sinh diệt. Pháp không chỗ về. Pháp vượt qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Pháp không cao thấp; thường trụ, bất động. Pháp lìa hết thảy quán hạnh.

“”Kính thưa ngài Mục Liên, tướng của Pháp như vậy, làm sao diễn giảng? Thưa ngài, người thuyết Pháp thì không diễn thuyết, không khai thị. Người nghe thì không nghe, không sở đắc. Như con người huyễn giảng Pháp cho người huyễn nghe. Ngài nên xác lập tâm ý này mà giảng Pháp. Cần phải hiểu rõ căn tánh nhạy bén hay u mê của chúng sinh. Bằng tâm đại bi mà tán dương Đại thừa; vì nhớ nghĩ báo đáp ân đức của Phật, không để Tam bảo đoạn tuyệt. Vì như vậy mà thuyết Pháp.”

“Nghe Duy Ma Cật nói Pháp này xong, tám trăm cư sĩ đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Bạch Thế Tôn, con không có biện tài như vậy, nên không đủ khả năng thăm bệnh.”

Phật nói với Ma Ha Ca Diếp:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

Ma Ha Ca Diếp bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Nhớ lại, có lần con đang khất thực nơi xóm nghèo, Duy Ma Cật đến nói: “Kính thưa ngài Ma Ha Ca Diếp, có tâm từ bi mà không rộng khắp, nên ngài bỏ nhà hào phú mà xin nhà bần hàn.

” Thưa ngài Ca Diếp, an trụ nơi Pháp bình đẳng thì nên hành khất thực theo thứ lớp. Vì sự không ăn, cho nên cần phải hành khất thực. Vì để làm rã sự kết hợp mà cầm lấy đồ ăn vo nắm. Vì không thọ nhận mà nhận lấy thực phẩm của người kia. Bằng ấn tượng về xóm hoang mà đi vào xóm. Nhìn sắc mà cũng đồng như mù. Nghe âm thanh cũng đồng như tiếng vọng. Ngửi mùi thơm cũng đồng như gió thoảng. Nếm thức ăn, mà không phân biệt. Tiếp thọ các xúc như trí chứng. Biết vạn hữu đều như huyễn tướng, không có tự tánh, chẳng có tha tánh; từ xưa vốn không bốc cháy thì nay không dập tắt.

“Thưa ngài Ca Diếp, nếu có thể thành tựu tám Pháp giải thoát mà không cần lìa tám tà; bằng tà tướng mà nhập chánh Pháp; bằng một miếng ăn mà bố thí tất cả; cùng chư Phật và Hiền Thánh Tăng. Cho đến được vậy mới nên ăn. Ăn như vậy không phải có phiền não cũng không lìa phiền não, không nhập định ý cũng không xuất định ý; không phải trụ thế gian cũng không phải trụ Niết bàn. Ai thí cho, công đức không nhiều cũng không ít. Vật thí không tốt cũng không hại. Đó là cách chân chánh đi vào Phật đạo, không nương dựa vào tiểu đạo của Thanh văn. Thưa Ca Diếp, ăn như vậy mới là không ăn suông của người bố thí.”

“Bạch Thế Tôn, khi nghe những lời này, được điều chưa từng có này, trong con khởi niềm tôn kính sâu sắc hết thảy chư Bồ tát, và con nghĩ: “Con người có gia đình mà có thể có trí tuệ biện tài như vậy, ai nghe mà không khởi tâm cầu giác ngộ?” Từ đó con thôi không khuyên người bằng Thanh văn hay Bích chi phật. Vì vậy cho nên con biết mình không đủ năng lực đi thăm bệnh.”

Phật lại bảo Tu Bồ Đề:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

Tu Bồ Đề bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Nhớ lại, có lần con đến nhà ông khất thực. Duy Ma Cật lấy bát của con cho đầy cơm rồi bảo: “Thưa ngài Tu Bồ Đề, nếu đối với sự ăn mà bình đẳng, thì đối với các Pháp cũng bình đẳng. Các Pháp bình đẳng thì đối với sự ăn cũng bình đẳng. Hành khất thực như vậy mới đáng nhận thức ăn.

“Thưa ngài Tu Bồ Đề, nếu có thể không cần dứt đoạn dâm dục, sân nộ, ngu si , mà cũng không câu hữu với chúng; không hoại nơi thân mà tùy nhất tướng; không diệt si và ái mà đạt được minh và giải thoát; bằng tướng của năm tội đại nghịch mà được giải thoát nhưng cũng không được cởi, không bị trói; không thấy bốn Thánh đế, cũng không phải không thấy Thánh đế; không phải đắc quả, không phải phàm phu, không phải lìa Pháp phàm phu; không phải Thánh nhân, không phải không là Thánh nhân; tuy thành tựu hết thảy Pháp mà vẫn xa lìa Pháp tướng. Có như thế mới đáng nhận thức ăn.

“Thưa ngài Tu Bồ Đề, nếu không thấy Phật cũng không nghe Pháp; sáu đại sư ngoại đạo kia, là Phú Lan Na Ca Diệp, Mạt Già Lê Câu Xa Lê Tử, San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Đa Sí Xá Khâm Bà La, và Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử, là Thầy của ngài; nhân họ mà ngài xuất gia. Nếu các vị Thầy ấy đọa lạc thì ngài cũng đọa lạc theo. Như vậy ngài mới nên nhận thức ăn.

“Nếu Tu Bồ Đề đi vào các tà kiến, không sang bờ bên kia; trụ trong tám nạn chứ không thoát khỏi tám nạn; đồng với phiền não, xa rời Pháp thanh tịnh; nếu ngài chứng đắc Vô tránh tam muội thì hết thảy chúng sinh cũng chứng đắc định ấy; những ai bố thí ngài, không nói là gieo vào ruộng phước; những ai cúng dường ngài sẽ rơi vào cõi dữ; ngài cùng bọn Ma nắm tay nhau làm bạn lữ trong trần lao; ngài cùng với bọn Ma và các trần lao giống nhau không khác; đối với hết thảy chúng sinh mà có tâm oán hận; báng bổ chư Phật, hủy hoại chánh Pháp, không nhập tăng số, không được diệt độ. Nếu được như vậy, ngài mới đáng nhận thức ăn.

“Bạch thưa Thế Tôn, nghe những lời này mà con hoang mang; không biết đó là ngôn ngữ gì; không biết phải trả lời thế nào. Con bèn bỏ lại bình bát, định ra khỏi nhà. Duy Ma Cật kêu lại: “Thưa ngài Tu Bồ Đề, hãy nhận lấy bình bát, chớ có sợ hãi. Ngài nghĩ sao, nếu Như Lai khiến một người hoá đến nạn vấn, khi ấy ngài có sợ chăng?” Con đáp, “Không sợ.” Duy Ma Cật tiếp, “Hết thảy Pháp đều là tướng như huyễn hoá. Cho nên ở đây ngài không nên sợ hãi. Vì sao? Vì văn tự và ngôn thuyết đều không xa lìa tướng ấy. Cho đến, bậc trí không dính mắc văn tự và ngôn thuyết, vì vậy chẳng có gì để sợ. Tại sao? Tại vì văn tự và ngôn thuyết không có tự tánh, đó là giải thoát. Tướng của giải thoát, đó là các Pháp.”

“Khi Duy Ma Cật nói xong Pháp này, hai trăm người con của chư thiên chứng được sự minh tịnh của Pháp nhãn. Vì thế con biết mình chưa đủ năng lực đến thăm ông.”

Phật lại bảo Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

Phú Lâu Na thưa với Phật:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực đến thăm bệnh ông ấy. Là vì, một hôm, trong rừng Đại Lâm, con đang thuyết Pháp cho một nhóm tì kheo mới thọ giới, Duy Ma Cật chợt đến và nói: “Thưa ngài Phú Lâu Na, trước tiên ngài nên nhập định để thấu rõ tâm tánh người nghe rồi mới nên giảng Pháp. Chớ để đồ ôi thiu trong chén quí. Ngài nên hiểu rõ tâm niệm của các Tỳ kheo này chứ đừng nhầm lẫn pha lê với thủy tinh. Nếu ngài chưa rõ căn nguyên của chúng sinh thì đừng nên phát khởi chúng bằng Pháp Tiểu thừa. Kia chưa bị lở lói, chớ làm họ trầy xước. Với người muốn đi trên đường, đừng chỉ họ lối hẹp. Đừng rót biển cả trong dấu lõm chân trâu. Đừng ví ánh mặt trời với sắc màu đom đóm.

“”Phú Lâu Na, các tì kheo này đã phát tâm Đại thừa từ lâu nhưng nửa chừng quên mất. Sao ngài lại hướng dẫn họ bằng Pháp Tiểu thừa? Trí của Tiểu thừa nông cạn, như người mù, không thể tỏ tường nguồn cội của chúng sinh.”

“Liền đó, Duy Ma Cật nhập đại định khiến các tì kheo nhớ lại kiếp trước của họ đã từng gặp năm trăm vị Phật, đã gieo trồng bao phước đức để hồi hướng cho phát nguyện cầu giác ngộ tối thượng của họ; khiến họ thức tỉnh và lập tức phục hồi tâm nguyện trong quá khứ. Họ liền cúi đầu đảnh lễ Duy Ma Cật, nghe ông thuyết giáo, và tiếp tục tầm cầu giác ngộ tối thượng, không còn thối chuyển.

“Con nghĩ hàng Thanh văn chưa quán sát rõ căn tánh của người nghe Pháp thì không nên thuyết Pháp. Nên con thấy mình chưa đủ năng lực đến thăm bịnh ông.”

Phật bảo Ma Ha Ca Chiên Diên:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

Ma Ha Ca Chiên Diên thưa:

“Bạch Đức Thế Tôn, con không đủ năng lực đến thăm bệnh ông ấy. Vì có lần, sau khi Phật giảng các yếu nghĩa của Pháp cho các Tỳ kheo, con đã theo đó giải thích cho các tì kheo nghĩa vô thường, nghĩa khổ, nghĩa không, nghĩa vô ngã, và nghĩa tịch diệt.

“Bấy giờ Duy Ma Cật đi dến và bảo con rằng: “Thưa ngài Ma Ha Ca Chiên Diên, đừng lấy tâm hành sinh diệt mà giải nghĩa Pháp thật tướng. Ma Ha Ca Chiên Diên, các Pháp rốt ráo không sinh không diệt; đó là nghĩa vô thường. Ngũ thủ uẩn rỗng suốt, trống không, không có gì sinh khởi; là nghĩa của khổ. Các Pháp rốt ráo không, không có gì; là nghĩa của vô. Ngã và vô ngã không hai; là nghĩa vô ngã. Các Pháp nguyên lai không bùng cháy, nay chẳng có gì là dập tắt; đó là nghĩa tịch diệt.”

“Duy Ma Cật nói xong, các tì kheo hiện diện tâm được giải thoát. Cho nên con thấy mình chưa đủ năng lực đến thăm bịnh ông.”

Phật bèn nói với A Na Luật :

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

A Na Luật thưa:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực đến thăm bệnh ông ấy. Vì có lần con đang đi kinh hành, một Phạm vương tên là Nghiêm Tịnh, cùng mười ngàn chư thiên hào quang chiếu rọi, đến gặp con, cúi chào và hỏi: “Thiên nhãn của ngài nhìn xa đến đâu?” Con đáp: “Thưa Nhân giả, tôi nhìn thấy ba nghìn đại thiên quốc độ của Phật Thích Ca Mâu Ni như trái am ma lặc trong lòng bàn tay.” Khi ấy Duy Ma Cật xuất hiện, nói rằng: “Thưa ngài A Na Luật, cái thấy bằng thiên nhãn của ngài là có tướng trạng hay không có tướng trạng? Giả sử có tướng trạng, thì chẳng hơn hàng ngoại đạo đã tập thành năm phép thần thông. Nếu không có tướng trạng, thì đó là vô vi, không có sự thấy.”

“Bạch Thế Tôn, lúc ấy con lặng thinh không trả lời được. Các Phạm thiên khi nghe những điều chưa từng nghe, liền làm lễ rồi cung kính hỏi: “Vậy trên thế gian này ai có chân thiên nhãn?” Ông đáp: “Phật Thế Tôn có chân thiên nhãn, vì thường trụ trong tam muội, nhìn thấy hết thảy cõi Phật không do bởi hai tướng.”

“Ngay lúc ấy, Phạm vương Nghiêm Tịnh và năm trăm chư thiên quyến thuộc đã phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Họ cung kính đảnh lễ dưới chân Duy Ma Cật rồi biến mất. Đó là lý do con nói mình chưa đủ năng lực để thăm bịnh ông ta.”

Phật bảo Ưu Ba Li:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

Ưu Ba Li thưa:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực đến thăm bệnh ông ấy. Vì sao? Con nhớ lại, xưa kia có hai tì kheo phạm giới, xấu hỗ không dám đến hỏi Phật, đến nói với con: “Thưa ngài Ưu Ba Li, chúng tôi đã phạm luật và rất hỗ thẹn vì tội này, không dám đến hỏi Phật, xin hỏi ông cách sám hối để giũ sạch tội lỗi.” Con bèn theo như Pháp mà giảng giải cho họ.

“Lúc ấy Duy Ma Cật đến nói với con: “Thưa ngài Ưu Ba Li, đừng làm nặng thêm tội của hai Tỳ kheo này mà hãy ngay thẳng trừ diệt. Chớ làm rối loạn tâm của họ. Vì sao? Vì bản chất tội không ở trong không ở ngoài, cũng không ở giữa. Như Phật đã dạy, chúng sinh cáu bẩn vì tâm cáu bẩn; nếu tâm trong sạch, hết thảy đều trong sạch. Tâm cũng không ở trong không ở ngoài, không ở giữa. Tâm như nhiên, tội cũng như nhiên. Các Pháp cũng như nhiên, không vượt ngoài Như. Như ngài Ưu Ba Li, nếu tâm tướng đã giải thoát, còn có gì cáu bẩn chăng?” Con đáp: “Không còn.” Ông ấy nói: “Cũng vậy, tâm tướng của chúng sinh thảy đều vô cấu, cùng như vậy. Thưa ngài Ưu Ba Li, vọng tưởng là cáu bẩn; không vọng tưởng là thanh tịnh. Điên đảo là cáu bẩn; không còn điên đảo là thanh tịnh. Chấp ngã là cáu bẩn; không chấp ngã là thanh tịnh. Ưu Ba Li, hết thảy Pháp khởi và diệt không đình trú, như ảo ảnh như tia chớp. Các Pháp không đối đãi nhau, không đình trú trong mỗi tâm niệm. Chúng đến từ những quan niệm sai lầm, như chiêm bao, như quáng nắng, như trăng trong đáy nước, như bóng trong gương, vì chúng sinh ra từ vọng tưởng. Hiểu được như vậy là người phụng trì giới luật. Hiểu như vậy là hiểu biêt thiện xảo. “

“Ngay lúc ấy, hai vị tì kheo thán phục: “Siêu việt thay trí tuệ, mà ngài Ưu Ba Li không thể sánh bằng. Tuy là bậc trì luật đệ nhất cũng không thể nói được như vậy” Con mới nói: “Duy trừ Phật ra, chưa từng có một Thanh văn hay Bồ tát nào vượt hơn biện tài vô ngại của người này vì trí tuệ minh đạt của ông thù thắng như vậy.”

“Hai vị tì kheo nhờ đó đã dứt đoạn nghi tình và hối hận, phát tâm cầu giác ngộ tối thượng và lập nguyện cho hết thảy chúng sinh đều được biện tài như vậy. Cho nên con đủ khả năng đến thăm bịnh ông ấy.”

Phật bèn nói với La Hầu La:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

La Hầu La thưa:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực đến thăm ông ấy. Vì nhớ lại, có lần con trai nhà trưởng giả thành Tỳ Da Li đến gặp con, cúi chào và hỏi: “La Hầu La, ông là con của Phật, đã bỏ ngôi vị Chuyển luân vương mà xuất gia học đạo. Xuất gia như vậy được lợi ích gì?” Con bèn như Pháp mà nói các lợi ích của công đức xuất gia, Duy Ma Cật bỗng đến, nói: “Thưa ngài La Hầu La, ông chớ nên nói về các lợi ích lợi ích của công đức xuất gia. Vì sao? Vì không lợi ích, không công đức; đó là xuất gia. Chỉ Pháp hữu vi mới nói đến lợi ích và công đức. Xuất gia là Pháp vô vi. Trong Pháp vô vi, không có lợi ích, không có công đức. La Hầu La, xuất gia là vượt khỏi cái sự chỗ này, chỗ kia, hay ở giữa; là vượt khỏi sáu mươi hai kiến chấp, an trú Niết bàn, được người trí lãnh thọ, là lối đi của bậc Thánh thực, hàng phục các ma, thoát ngoài năm đạo, thanh tịnh năm con mắt, thành tựu năm lực, tạo lập năm căn, không gây não hại cho đời, xa lìa mọi điều xấu, đẩy lui Ngoại đạo, siêu việt giả danh tự, ra khỏi vũng sình, không bị ràng buộc, không ngã sở; không có gì để chấp thủ, không bị nhiễu loạn, nội tâm hoan hỷ, hộ trì tâm ý kẻ khác, tùy thuận thiền định, và thoát khỏi mọi sai lầm. Làm được như vậy mới là đích thực xuất gia.”

“Đoạn, Duy Ma Cật nói với những người con của các trưởng giả: “Các chú nên xuất gia trong chánh Pháp. Vì sao? Vì không dễ gì được sống cùng thời với Phật.” Các người này nói: “Thưa cư sĩ tôn kính, chúng tôi có nghe Phật dạy, nếu cha mẹ chưa cho phép thì con không được xuất gia.” Duy Ma Cật bảo: “Đúng vậy. Nhưng khi phát tâm cầu giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là các chú đã xuất gia.”

“Bấy giờ, ba mươi hai người con của các trưởng giả đã phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì vậy con chưa đủ năng lực đến thăm bịnh ông ấy.”

Phật bèn bảo A Nan:

“Ông hãy đi thăm bịnh Duy Ma Cật.”

A Nan nói:

“Bạch Thế Tôn, con không đủ năng lực đến thăm bịnh ông ấy. Vì nhớ lại, có lần khi thân Thế Tôn có chút bịnh, cần sữa bò, con lấy bát đến đứng trước cửa nhà người Bà la môn. Khi ấy Duy Ma Cật đi đến, bảo con rằng: “Thưa ngài A Nan, có chuyện gì mà cầm bát đứng đây sớm thế?” Con đáp: “Cư sĩ, Đức Thế Tôn thân có chút bịnh, cần sữa bò, vì vậy tôi mới đứng đây.” Duy Ma Cật chặn lại: “Thôi im đi, ngài A Nan. Chớ nói những lời như vậy. Thân Như Lai là thể kim cương. Mọi điều xấu đã bị đoạn trừ; mọi điều thiên hội đủ. Làm gì có bệnh? Làm gì có não? Ngài hãy im lặng mà đi. Chớ phỉ báng Như Lai. Đừng để người khác nghe được lời thô tháo đó. Chớ để chư thiên có uy đức và Bồ tát đến từ các quốc độ thanh tịnh nghe thấy. Thưa ngài A Nan, Chuyển luân thánh vương mới chỉ tích góp vài công đức nhỏ đã không còn bịnh não. Huống chi Như Lai đã hội đủ vô lượng phước đức thù thắng đức lại còn bịnh sao? Hãy đi đi, thưa ngài A Nan, đừng làm xấu hết cả chúng tôi. Nếu người Bà la môn ngoại đạo nghe lời này, họ sẽ nghĩ: “Sao đáng gọi là Tôn Sư? Người này cứu được ai khi ông chưa cứu nổi thân mình?” Hãy âm thầm mà đi nhanh đi, đừng để ai nghe lời ngài nói. A Nan, nên biết, thân Như Lai là Pháp thân, không đến từ tâm tưởng và dục vọng. Phật là Đức Thế Tôn, thân Ngài vượt ngoài ba cõi. Thân Phật là vô lậu, vì các lậu đã dứt sạch. Thân Phật là vô vi, không thể gọi tên. Thân như vậy làm sao có bịnh?”

“Bạch Thế Tôn, nghe ông nói, con ngập tràn hỗ thẹn, tự hỏi phải chăng con tuy gần Phật nhưng đã nghe nhầm chăng? Nhưng lúc ấy, con nghe một tiếng nói từ không trung vọng xuống: “A Nan, cư sĩ nói đúng, nhưng vì Phật hiện thân trong đời năm trược ác, hiện hành Pháp này để cứu độ chúng sinh. A Nan, cứ đi xin sữa, chớ hỗ thẹn.”

“Bạch Thế Tôn, trí tuệ và tài biện thuyết của Duy Ma Cật như vậy, con quả thật không đủ khả năng đến thăm bịnh ông.”

Như vậy năm trăm đại đệ tử của Phật đều kể lại những cuộc gặp bất ngờ của họ với Duy Ma Cật, đều nói không đủ khả năng đến thăm bịnh ông.