Vimalakīrti Nirdeśa Sūtra – 維摩詰所說經 – Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh
Nước Trung Hoa – triều Hậu Tần (384~417) thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc
 Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344~413) Hán dịch từ Phạn văn năm 406
Tham chiếu Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh của ngài Huyền Trang (602~664)
Tỳ kheo Thích Tuệ Sỹ Việt dịch từ Hán văn
Nhà xuất bản Phương Đông xuất bản năm 2008
daithua.com biên tập năm 2020

PHẬT ĐẠO


Văn Thù hỏi Duy Ma Cật:

“Bồ tát làm sao để thông đạt Phật đạo?”

Duy Ma Cật nói:

“Bồ tát đi trên phi đạo là thông đạt Phật đạo.”

Văn Thù Sư Lợi hỏi:

“Bồ tát đi trên phi đạo là thế nào?”

Duy Ma Cật đáp:

“Bồ tát hành năm vô gián mà không thù không hại. Đi đến địa ngục mà không có cáu bẩn nào của tội lỗi. Đi đến súc sinh mà không có các lỗi lầm của vô minh, kiêu, mạn. Đi đến ngạ quỷ mà vẫn đầy đủ công đức. đi lên các cõi Sắc và vô Sắc giới mà không cho là hơn hết. Thị hiện hành tham dục mà không nhiễm trước. Thị hiện hành sân hận thù nghịch mà không có thù hận ác ý đối với các chúng sinh. Thị hiện hành ngu si mà dùng trí tuệ để chế ngự tâm mình. Thị hiện hành xan tham bủn xỉn mà không tiếc cái gì sở hữu trong ngoài, thân mạng. Thị hiện hành phá giới mà an trụ trong tịnh giới, cho đến dù đối với tội nhỏ vẫn ôm lòng kinh sợ. Thị hiện hành sân nhuế mà thường hành từ, nhẫn nhịn. Thị hiện hành biếng nhác mà lại siêng năng tu tập công đức. Thị hiện hành loạn ý mà thường chánh niệm, tâm định. Thị hiện hành ngu si mà thấu triệt tuệ thế gian và xuất thế gian. Thị hiện hành siểm ngụy mà khéo phương tiện tùy theo nghĩa kinh. Thị hiện hành kiêu mạn mà đối với chúng sinh thì như một chiếc cầu. Thị hiện hành các phiền não mà tâm thường thanh tịnh. Thị hiện nhập bọn với Ma nhưng thuận với trí tuệ của Phật chứ không theo giáo thuyết khác. Thị hiện nhập vào hàng Thanh văn, nhưng thường nói Pháp chưa từng nghe cho chúng sinh. Thị hiện trong hàng Bích chi phật mà thành tựu đại bi giáo hoá chúng sinh. Thị hiện hoà nhập trong giới cùng khổ nhưng có bàn tay châu báu với công đức vô tận. Thị hiện làm người khuyết tật mà thân tự trang nghiêm các tướng tốt đẹp đẽ. Thị hiện ở giữa giai cấp hạ tiện mà sinh vào chủng tính Phật, đủ các công đức. Thị hiện ở giữa người gầy xấu ốm yếu mà được thân Na la diên, hết thảy chúng sinh đều ưa nhìn ngắm. Thị hiện người già yếu mà không ốm đau, vượt qua nỗi sợ hãi sự chết. Thị hiện có mọi tiện nghi của cuộc sống vẫn luôn thấy rõ tính vô thường, không tham cầu gì. Thị hiện có thê thiếp và nàng hầu mà vẫn thường xa rời bùn sình ngũ dục. Thị hiện người đần độn, nói lắp, nhưng lại thành tựu biện tài bằng lực tổng trì không hề quên lãng. Thị hiện đi vào bến tà nhưng vẫn đưa chúng sinh đi qua bằng bến chánh. Hiện vào khắp các đạo mà đoạn trừ nhân duyên của chúng. Hiện ở niết bàn vẫn không dứt lìa sinh tử.

“Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát đi trên phi đạo như vậy là Bồ tát thông đạt Phật đạo.”

Đoạn Duy Ma Cật lại hỏi Văn Thù Sư Lợi:

“Thế nào là chủng tánh của Như Lai?”

Văn Thù Sư Lợi đáp:

“Hữu thân là chủng tánh; vô minh và hữu ái là chủng tánh; tham, sân, si là chủng tánh; bốn điên đảo là chủng tánh; năm chướng cái là chủng tánh; sáu nhập là chủng tánh; bảy thức xứ là chủng tánh; tám tà Pháp là chủng tánh; chín não xứ là chủng tánh; mười bất thiện nghiệp đạo là chủng tánh. Nói tóm, sáu mươi hai kiến và hết thảy phiền não đều là chủng tánh Phật.”

Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi:

“Sao lại như vậy?”

Văn Thù Sư Lợi đáp:

“Vì người thấy Pháp vô vi rồi vào chánh vị thì không còn phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cũng như trên gò đất cao thì làm sao nảy nở hoa sen; chỉ mọc nơi chỗ đầm lầy mới mọc hoa này. Cũng vậy, người thấy Pháp vô vi rồi vào chánh vị thì cuối cùng không còn sinh nơi Phật Pháp. Chỉ có chúng sinh ở chốn bùn lầy phiền não mới có thể phát khởi Phật Pháp. Cũng như hạt giống đem bỏ giữa hư không không bao giờ có thể nảy mầm; đem vùi trong đất phân mới có thể tươi tốt. Do đó, người vào Chánh vị vô vi không phát sinh Pháp Phật; trong khi người khởi lên ngã kiến lớn như núi Tu di còn có thể phát tâm cầu giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà phát huy Pháp Phật.

“Cho nên, nên biết hết thảy phiền não đều là chủng tánh của Như Lai. Cũng như người không lặn xuống biển sâu thì không tìm được ngọc trai vô giá; cũng vậy người không lặn xuống biển phiền não sẽ không tìm được ngọc Nhất thiết trí.”

Lúc ấy Ma Ha Ca Diếp tán thán:

“Lành thay, Văn Thù Sư Lợi, lành thay, lời ông nói thật tuyệt. Đúng như những điều được nói, những đám trần lao đều là chủng tánh Như Lai. Chúng tôi nay thật chẳng thể phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cho đến người phạm năm tội vô gián cũng còn có thể phát ý sanh nơi Phật Pháp nhưng chúng tôi thì vĩnh viễn không thể phát. Cũng như người mà căn đã hư hoại thì chẳng còn hưởng lợi được gì nơi ngũ dục. Cũng vậy, hàng Thanh văn đã đoạn các kết sử chẳng còn thu hoạch gì thêm nơi Phật Pháp, vĩnh viễn không có chí nguyện. Cho nên, Văn Thù Sư Lợi, phàm phu còn quay trở lại với Phật Pháp chứ Thanh văn thì không. Vì sao? Vì phàm phu khi nghe Pháp thì có thể phát khởi đạo tâm vô thượng, để cho Tam bảo không gián đoạn. Giả sử Thanh văn trọn đời nghe Pháp và thấy lực, vô úy của Phật, v.v… nhưng vĩnh viễn không thể phát đạo tâm vô thượng.”

Lúc ấy, trong hội chúng có Bồ tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi Duy Ma Cật:

“Cư sĩ, ai là cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc của ngài? Gia nhân tôi tớ của ngài, voi ngựa xe cộ của ngài ở đâu?”

Bấy giờ Duy Ma Cật trả lời bằng bài kệ:

Trí độ, mẹ Bồ tát;
Phương tiện, cha Bồ tát.
Hết thảy bậc Đạo sư
Đều từ đấy mà sinh.
Lấy Pháp hỷ làm vợ;
Tâm từ bi, con gái;
Tâm thành thật, là trai.
Nhà, rốt ráo không tịch;
Đệ tử là trần lao,
Tùy nghi mà chuyển hoá.
Đạo phẩm, là bạn hữu
Nhờ đây thành chánh giác.
Các độ, bạn đồng hành;
Bốn nhiếp là kỹ nữ;
Ca vịnh, tụng Pháp ngôn,
Lấy đó làm âm nhạc.
Tổng trì là vườn hoa,
Vô lậu là rừng cây.
Giác ý, hoa tươi đẹp
Quả, trí tuệ, giải thoát.
Tám giải là hồ tắm;
Nước định lắng trong, đầy.
Rải bằng bảy hoa tịnh,
Tắm gội người vô nhiễm.
Voi, ngựa: năm thần thông,
Kéo cổ xe Đại thừa;
Lấy nhất tâm chế ngự
Dong ruổi tám chánh đạo.
Tướng tốt để nghiêm thân
Vẻ đẹp chuốt tư thái.
Tàm quý là trang phục
Thâm tâm là tràng hoa.
Giàu có bảy tài bảo
Dạy dỗ cho thêm ích.
Theo giáo thuyết tu hành
Hồi hướng làm đại lợi.
Bốn thiền là giường chõng
Phát sinh từ tịnh mạng.
Học nhiều, tăng trí tuệ,
Làm âm thanh thức tỉnh.
Cam lộ là thức ăn;
Vị giải thoát là tương;
Tịnh tâm là tắm gội;
Giới phẩm là hương thoa.
Diệt trừ giặc phiền não,
Dũng mãnh không ai hơn.
Hàng phục bốn thứ ma
Cờ thắng dựng Đạo tràng.
Dù biết không khởi, diệt
Vẫn thị hiện tái sanh
Trên khắp các quốc độ
Như mặt trời rọi khắp.
Cúng dường vô lượng Phật
Khắp mười phương thế giới
Mà không hề phân biệt
Có Phật và có ta.
Dù biết các cõi Phật
Cùng chúng sinh là không
Vẫn thường tu tịnh độ,
Để giáo hóa chúng sinh.
Chúng sinh vô số loại,
Sắc, thanh, và oai nghi;
Bồ tát lực, vô uý,
Khoảnh khắc thảy hiển hiện.
Biết rõ việc chúng ma
Vẫn thị hiện hành theo,
Rồi bằng phương tiện trí,
Tuỳ ý mà thể hiện.
Hoặc hiện già, bịnh, chết,
Để thành tựu chúng sinh;
Biểt rõ là huyễn hoá,
Thông suốt không chướng ngại.
Hoặc hiện lửa tận thế
Đốt cháy rực cõi đất;
Khiến người tưởng thường hằng
Hiểu rõ Pháp vô thường.
Vô số ức chúng sinh
Cùng đến thỉnh Bồ tát.
Một lúc chúng đến nhà,
Chỉ cho hướng Phật đạo.
Kinh sách và chú thuật,
Kỹ, mỹ nghệ đều tinh;
Lấy đó mà thị hiện,
Làm lợi ích quần sinh.
Xuất gia khắp các đạo,
Đạo Pháp của thế gian;
Nhân đó trừ mê hoặc,
Chứ không đọa tà kiến.
Làm vua mặt trời, trăng,
Phạm thiên, Thế giới chủ,
Có khi là đất, nước,
Hoặc gió, hoặc là lửa.
Hoặc tai kiếp tật dịch,
Thị hiện cây cỏ thuốc;
Để cho người được uống,
Trị dứt các dịch bịnh.
Hoặc tai kiếp đói kém;
Hiện thân làm thức ăn;
Trước cứu người đói khát
Sau dạy Pháp giải thoát.
Hoặc tai kiếp đao binh;
Khơi dậy tâm từ bi
Gíáo hoá chúng sinh kia
Để sống không tranh chấp.
Hoăc khi gặp đại chiến,
Khiến hai bên cùng mạnh
Rồi dùng lực oai nghiêm
Làm họ giảng hòa nhau.
Trong khắp mọi quốc độ,
Chỗ nào còn địa ngục,
Liền thị hiện chỗ ấy
Giúp người giảm bớt khổ.
Trong khắp mọi quốc độ,
Súc sinh ăn thịt nhau;
Người thị hiện chỗ đó
Làm lợi ích cho chúng.
Thị hiện thọ ngũ dục
Mà vẫn hiện hành thiền,
Làm rối loạn các ma
Không cho chúng tự tiện.
Hy hữu như trong lửa
Nở một đóa sen hồng;
Hành thiền trong ngũ dục
Cũng hy hữu như vậy.
Hoặc hiện làm dâm nữ
Dẫn dụ người háo sắc;
Trước lấy dục câu móc,
Sau hướng về Phật trí.
Hoặc là chủ thành ấp;
Hoặc làm chủ thương buôn;
Làm quốc sư, đại thần;
Cũng vì lợi chúng sinh.
Có người nghèo, đói rách,
Hiện làm kho vô tận;
Rồi nhân đó khuyên dẫn,
Khiến phát Bồ đề tâm.

Với kẻ tâm kiêu mạn;
Hiện làm đại lực sỹ
Khuất phục các kiêu mạn,
Đưa về vô thượng đạo.
Hoặc đám người kinh sợ,
Liền đến mà an ủi.
Trước làm cho hết sợ;
Sau khiến phát đạo tâm.
Hoặc hiện lìa dâm dục,
Làm tiên nhân năm thông
Để dắt dẫn quần sanh,
Trụ ở giới, nhẫn, từ.
Với người cần phục dịch,
Hiện thân làm tôi tớ
Khiến cho chủ hài lòng
Mà phát khởi Đạo tâm.
Tuỳ theo người nhu cầu,
Mà đưa vào Phật đạo;
Liền dụng lực phương tiện
Cấp cho đủ thứ cần.
Như thế, đạo vô lượng,
Và sở hành không bờ;
Trí tuệ không biên tế,
Người độ vô số chúng.
Dù hết thảy chư Phật
Trải qua vô lượng kiếp
Tán thán công đức này
Cũng không thể nói hết.
Pháp như vậy, ai nghe
Mà không phát Bồ đề?
Chỉ trừ kẻ vô dụng,
Hoặc si ám, vô tri.