Vimalakīrti Nirdeśa Sūtra – 維摩詰所說經 – Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh
Nước Trung Hoa – triều Hậu Tần (384~417) thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc
 Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập (344~413) Hán dịch từ Phạn văn năm 406
Tham chiếu Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh của ngài Huyền Trang (602~664)
Tỳ kheo Thích Tuệ Sỹ Việt dịch từ Hán văn
Nhà xuất bản Phương Đông xuất bản năm 2008
daithua.com biên tập năm 2020

THẤY PHẬT A SÚC


Bấy giờ Phật hỏi Duy Ma Cật:

“Ông muốn thấy Như Lai; nhưng ông quán Như Lai như thế nào?”

Duy Ma Cật đáp:

“Như tự quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy. Con quán Như Lai, tiền tế không đến, hậu tế không đi, hiện tại không trụ. Không quán sắc, không quán như của sắc, không quán tính của sắc. Không quán thọ, tưởng, hành, thức, không quán như của thức, không quán tính của thức. Không do tứ đại sinh khởi, đồng với hư không. Sáu xứ không tích tập thành; vì đã vượt ngoài nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và tâm. Không ở trong ba cõi, vì đã lìa ba thứ cáu bẩn, thuận ba giải thoát môn, đầy đủ ba minh, cùng vô minh bình đẳng. Không nhất tướng, không dị tướng; không tự tướng, không tha tướng; không phải vô tướng, không phải thủ tướng; khi giáo hóa chúng sinh Ngài không ở bên này, chẳng đến bên kia cũng không ở giữa dòng. Ngài quán sát lẽ tịch diệt mà không vĩnh viễn tịch diệt. Không là đây cũng không là kia; không lấy đây, không lấy kia; không thể lấy trí để biết; không thể lấy thức để nhận thức; không mờ, không sáng; vô danh, vô tướng; không mạnh, không yếu; không sạch, không nhơ; không ở phương nào cũng không xa lìa phương nào, không phải hữu vi cũng không phải vô vi; không thể chỉ ra cũng không thể nói đến; không bố thí cũng không ích kỷ; không trì giới cũng không phá giới; không nhẫn cũng không sân; không tinh tấn cũng không giải đãi; không định, không loạn; không trí cũng không ngu; không thành thật cũng không lừa dối; không đến không đi, không vào không ra; dứt tuyệt tất cả con đường ngôn thuyết; không phải phước điền cũng không phải không là phước điền; không xứng đáng cúng dường cũng không phải không xứng đáng cúng dường; không thủ, không xả; không phải hữu tướng, không phải vô tướng, đồng với chân tế, bình đẳng với Pháp tánh; không thể định danh, không thể đo lường, vì vượt ngoài định danh và định lượng; không phải lớn, không phải nhỏ; không phải cái được thấy, không phải cái được nghe, không phải cái được tri giác, không phải cái được nhận biết; lìa mọi kết buộc, đồng đẳng với trí, đồng với chúng sinh; không phân biệt với các Pháp; hoàn toàn không khuyết điểm; không vẩn đục, không phiền não, không tác, không khởi, không sanh, không diệt, không sợ, không lo, không mừng, không chán; không phải đã tồn tại, không phải sẽ tồn tại, không phải đang tồn tại; không thể bằng tất cả ngôn thuyết để hiển thị hay phân biệt.

“Bạch Thế Tôn, thân Như Lai như vậy, nên quán như vậy. Quán như vậy gọi là chánh quán. Quán khác đi, gọi là tà quán.”

Bấy giờ, Xá Lợi Phất hỏi Duy Ma Cật:

“Ông thác ở đâu mà sanh lại chốn này?”

Duy Ma Cật hỏi lại:

“Pháp ngài đã chứng có thác có sanh ư?”

Xá Lợi Phất đáp:

“Không thác, không sanh.”

Duy Ma Cật hỏi:

“Nếu các Pháp không có tướng thác và sanh, sao ngài lại hỏi, “Ông thác ở đâu mà sanh lại chốn này?” Như với nhà ảo thuật tạo ra các nam nữ ảo; chúng có thác có sanh không?”

Xá Lợi Phất đáp:

“Chúng chẳng thác chẳng sanh.”

“Ngài há không nghe Phật dạy, các Pháp là tướng như huyễn ư?”

Đáp:

“Có nghe.”

“Nếu hết thảy đều là tướng như huyễn, sao ngài, lại hỏi, “Ông thác ở đâu mà sanh lại chốn này?” Xá Lợi Phất, thác chỉ là Pháp hư dối, thuộc tướng suy tàn và hoại diệt; sanh cũng là điều hư dối, là tướng tương tục. Bồ tát tuy thác mà không dứt gốc thiện, tuy sanh vẫn không tăng trưởng các ác.”

Bấy giờ đức Phật bảo Xá Lợi Phất:

“Có một cõi tên Diệu Hỷ có Phật hiệu là A Súc. Duy Ma Cật đã thác ở cõi đó để sanh lại nơi này.”

Xá Lợi Phất thưa với Phật:

“Thật chưa từng có, bạch Thế Tôn, người này chịu rời cõi thanh tịnh để đến thế giới đầy rẫy hận thù và nguy hại này!”

Duy Ma Cật hỏi Xá Lợi Phất:

“Xá Lợi Phất, Ngài nghĩ thế nào, ánh mặt trời khi xuất hiện có hiệp cùng với bóng tối không?”

Xá Lợi Phất đáp:

“Chỗ nào có ánh mặt trời thì không còn bóng tối.”

Duy Ma Cật hỏi:

“Vì sao ánh mặt trời soi rọi cõi Diêm Phù Đề này?”

Xá Lợi Phất:

“Đem ánh sáng soi rọi để xua tan bóng tối.”

Duy Ma Cật:

“Bồ tát cũng vậy, tuy sanh nơi cõi Phật bất tịnh để giáo hóa chúng sinh, nhưng không hiệp cùng sự ngu ám, mà chỉ để diệt trừ bóng tối phiền não của chúng sinh.”

Lúc ấy đại chúng ngưỡng vọng muốn chiêm bái đức Vô Động Như Lai cùng các Bồ tát và chúng Thanh văn cõi Diệu Hỷ. Phật biết ý nghĩ của họ, bảo Duy Ma Cật:

“Này thiện nam tử, hãy vì đại chúng ở đây, hiện đức Vô Động Như Lai cùng các Bồ tát, chúng Thanh văn ở cõi Diệu Hỷ cho họ được nhìn thấy.”

Duy Ma Cật tự nghĩ: “Ta hãy không rời chỗ ngồi này mà tiếp nhận cõi Diệu Hỷ với dãy núi Thiết Vi cùng đồi núi, sông, suối, khe, mạch, biển, Tu Di và các núi, và trời, trăng, sao, các cung điện của trời, rồng, quỷ thần, Phạm thiên; cùng các Bồ tát, chúng Thanh văn, các thành phố, làng mạc, nam nữ già trẻ, cho đến Đức Vô Động Như Lai với cây Bồ đề và các tòa sen mầu nhiệm dùng để làm Phật sự trong khắp mười phương, cùng ba đường thềm báu nối cõi Diêm Phù Đề với trời Đao Lợi cho chư thiên xuống kính lễ Đức Vô Động Như Lai và nghe kinh, và con người lên đó chiêm bái chư thiên. Đó là vô lượng công đức thành tựu của thế giới Diệu Hỷ, từ trên đến A ca ni tra, dưới đến tận ranh giới nước. Ta dùng tay phải nâng lên dễ dàng như người thợ gốm nâng cái bàn quay. Vào trong thế giới này như cầm tràng hoa mà đưa ra cho hội chúng nhìn thấy.”

Nghĩ xong, Duy Ma Cật liền nhập định, dùng thần thông lực nắm lấy cõi Diệu Hỷ bằng tay mặt đem đặt lên mặt đất này. Chư Bồ tát, Thanh văn và thiên thần đã đắc thần thông lực ở cõi đó đều cất tiếng nói lớn:

“Bạch Thế Tôn, ai đang mang chúng con đi? Xin Thế Tôn cứu giúp.”

Phật Vô Động bảo:

“Không phải Ta làm mà do Duy Ma Cật đang dùng thần thông lực làm ra.”

Còn những người chưa được thần thông đều không biết cũng không cảm thấy mình đang chuyển dịch. Thế giới Diệu Hỷ tuy được mang về mặt đất vẫn không tăng không giảm, mà mặt đất cũng không bị chèn ép hay chật chội; y nguyên như cũ.

Bấy giờ, Phật Thích Ca Mâu Ni nói với đại chúng:

“Các ngươi có thấy thế giới Diệu Hỷ của Đức Vô Động Như Lai chăng? Cõi ấy trang nghiêm, cùng chư Bồ tát hạnh thanh tịnh và đệ tử thanh bạch.”

Đại chúng đồng thưa:

“Vâng, chúng con đã thấy.”

Phật dạy:

“Nếu Bồ tát muốn được quốc độ Phật thanh tịnh như vậy, nên học theo đạo mà Đức Vô Động Như Lai đã hành.”

Khi thị hiện cõi Diệu Hỷ này, mười bốn na do tha người đã phát tâm cầu giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và nguyện được tái sanh ở thế giới Diệu Hỷ. Phật Thích Ca Mâu Ni chứng nhận họ sẽ được tái sanh nơi cõi đó.

Khi đã làm xong Phật sự vì lợi ích của chúng sinh ở nơi quốc độ này rồi, thế giới Diệu Hỷ được trả về chốn cũ, đại chúng đều trông thấy.

Bấy giờ Phật nói với Xá Lợi Phất:

“Ngươi có nhìn thấy thế giới Diệu Hỷ và Đức Vô Động Như Lai chưa?”

Xá Lợi Phất đáp:

“Vâng, con đã thấy, bạch Thế Tôn. Con ước nguyện hết thảy chúng sinh đều được quốc độ thanh tịnh như cõi Phật Vô Động và thần thông lực như của Duy Ma Cật. Bạch Thế Tôn, chúng con thật sự được nhiều lợi ích khi được thân cận, cung dưỡng, con người này. Chúng sinh nào hiện tại hay mai sau khi Thế Tôn đã diệt độ mà được nghe Kinh này, thảy đều sẽ được lợi ích lớn; và càng lớn xiết bao khi nghe rồi tin hiểu, thọ trì hay đọc tụng, thuyết giảng, theo Pháp đó mà tu hành. Ai tiếp nhận kinh này là tiếp nhận kho tàng Pháp bảo. Nếu đem ra đọc tụng, giải nghĩa và theo đó mà tu hành tất sẽ được chư Phật thường xuyên hộ niệm. Ai cung dưỡng người này là cung dưỡng chư Phật. Ai sao chép, thọ trì kinh quyển này, nên biết, nhà của người ấy có Như Lai ngự. Nếu khi nghe kinh này mà tùy hỷ, người ấy ắt sẽ đạt nhất thiết trí. Ai tin và hiểu kinh này, dù chỉ một bài kệ bốn câu trong đó, và đem giảng cho người khác nghe, nên biết, người ấy ắt sẽ được thọ ký thành A nậu Đa la Tam miệu tam Bồ đề trong tương lai.”